Ginkgo 3000 có thành phần chính là cao chiết lá ginko biloba.
Đây là thuốc được dùng để điều trị suy giảm tuần hoàn máu, sa sút trí tuệ, một số biến chứng đái tháo đường, hội chứng khập khiễng gián cách do tắc nghẽn động mạch, đột quỵ và tổn thương não.
Thuốc Ginkgo 3000 được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:
Suy giảm tuần hoàn máu với các triệu chứng: Chóng mặt, nhức đầu, giảm khả năng thị giác và thính giác, suy giảm trí tuệ và minh mẫn...
Biến chứng đái tháo đường: Với các triệu chứng thiếu máu cục bộ gây loét, hoại tử...
Biến chứng của đột quỵ và tổn thương não: Với các triệu chứng lo âu, trầm cảm, rối loạn thần kinh, xơ cứng động mạch não có và không có dấu hiệu mất trí...
Hội chứng khập khiễng gián cách do tắt nghẽn động mạch, rối loạn tuần hoàn động mạch do lão hoá...
Sự ức chế yếu tố hoạt hoá tiểu cầu (PAF)
Yếu tố hoạt hoá tiểu cầu (PAF) là một phospholipid trung gian được phóng thích từ màng tế bào và gây ra nhiều tác dụng trên hệ thống mạch máu bao gồm sự kết tập tiểu cầu và chứng huyết khối ở động mạch, PAF giống như một yếu tố trong sự phát triển các huyết khối ở não và chứng nhồi máu phức tạp dẫn đến suy yếu não và sa sút trí tuệ ở người lớn tuổi.
Cao chiết ginkgo biloba ức chế PAF bằng cách đối kháng với thụ thể PAF trên màng và ức chế sự kết tập tiểu cầu gây gởi PAF. Cao chiết ginkgo biloba thực hiện tác động hữu ích trong suy não bằng cách làm giảm những thay đổi trên mạch máu não gây ra bởi PAF.
Cao chiết ginkgo biloba tăng cường sự tưới máu từng phần do tác động của nó trên hệ mạch và thông qua tác động huyết lưu biên học. Cao chiết ginkgo biloba làm bình thường hoá sự suy giảm trương lực tĩnh mạch và động mạch ở những vùng giảm oxi bởi tác động của nó trên sự phóng thích và phân huỷ catecholamin.
Cao chiết ginkgo biloba tác động giãn động mạch trung gian thông qua sự kích thích sản xuất các chất giãn mạch như prostacyclin và yếu tố giãn mạch có nguồn gốc từ nội bộ (EDRF). Bằng cách giảm sự kết tập hồng cầu và cải thiện sự tưới máu ở các mạch máu não và ngoại vi, cải thiện sự tưới máu ở các mô và bảo vệ các mô khỏi tổn thương do giảm oxi.
Các gốc oxi hoá tự do gây nhiều tác động trong các tình trạng liên quan đến sự thải hoá, sự viêm và tổn thương do thiếu máu cục bộ. Cao chiết ginkgo biloba là chất ức chế mạnh đối với các gốc oxi hoá tự do. Vì vậy, nó thực hiện tác động hữu ích trong việc giới hạn hoặc ngăn ngừa các gốc tự do làm trung gian tổn thương tế bào.
Sự chuyển hoá não bị thay đổi ở những vùng não bị thiếu máu cục bộ, kết quả là giảm sự hấp thu glucose, mất cân bằng điện giải, gây phù và làm trầm trọng thêm chứng giảm oxi. Cao chiết ginkgo biloba làm bình thường sự chuyển hoá não trong tình trạng thiếu máu cục bộ bằng cách cải thiện sự hấp thu và tiêu thụ glucose và giới hạn sự mất cân bằng điện giải, do vậy làm giảm và ngăn ngừa tổn thương tế bào.
Giảm gắn kết với thụ thể muscarin ở não xuất hiện trong các rối loạn nhận thức liên quan đến tuổi tác và nồng độ norepinephrin trên một số vùng của não giảm mạnh ở những bệnh nhân bị bệnh Alzheimer. Trong các thử nghiệm trên súc vật, cao chiết ginkgo biloba làm tăng số lượng thụ thể muscarin trên vùng não của hải mã.
Cao chiết ginkgo biloba cũng làm tăng sự phục hồi norepinephrin ở vỏ não. Điều này có thể là cơ chế đảm trách sự cải thiện chức năng nhận thức ở người già hoặc sa sút trí tuệ do chứng nhồi máu.
Dược động học của cao chiết ginkgo biloba được nghiên cứu trên súc vật sau khi uống cao chiết ginkgo biloba có gắn đồng vị phóng xạ 14C. Khoảng 60% dịch chiết ginkgo biloba được hấp thu ở đường tiêu hoá trên.
Sự phân phối của đồng vị phóng xạ cho thấy nó có ái lực ở động mạch chủ, da, phổi, tim, hạch, mô thần kinh và mắt. Ở những vùng nhất định trên não cho thấy mức phóng xạ cao gấp 5 lần so với trong huyết tương sau 72 giờ.
Khoảng 16% liều dùng được bài tiết qua hơi thở trong 3 giờ và 38% trong 72 giờ. Khoảng 21% liều dùng được bài tiết qua đường niệu. Cao chiết ginkgo biloba có thời gian bán thải khoảng 4,5 giờ.
Thuốc dùng đường uống.
Người lớn: Liều hằng ngày cho người lớn là 1 - 2 viên/ngày
Trẻ em: Do việc dùng thuốc này trên trẻ em chưa được đánh giá, không nên dùng cho bệnh nhân dưới 12 tuổi.
Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.
Vui lòng chờ